1.Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật đặc thù. Đó là nghệ thuật tạo lập không gian, môi trường sống cho con người. Từ một công trình kiến trúc cụ thể như ngôi nhà ở, nhà hát, bảo tồn, công viên… đến quy hoạch một điểm dân cư, một khu tỉnh thành, một đô thị hay vùng lãnh thổ.V.V… Nghệ thuật kiến trúc gắn liền với lịch sử phát triển của nhân loại, kể từ thuở hồng hoang sống trong hang đá cho đến thời đại văn minh công nghiệp như hiện tại. Thế nhưng, không phải bất kỳ công trình xây cất nào cũng được gọi là kiến trúc. Bởi kiến trúc là nghệ thuật. Chính sự khác biệt này mới xuất hiện trong xã hội hai danh xưng: nhà xây dựng (người chuyên xây dựng công trình) và kiến trúc sư (người sáng tác kiểu nhà, công trình, quy hoạch tỉnh thành …). Là ngành nghệ thuật đặc thù, nên sản phẩm sáng tạo của kiến trúc sư (KTS) không giống sản phẩm sáng tạo của các ngành nghệ thuật khác. Người họa sỹ, nhạc sỹ, thi sỹ… tạo ra tác phẩm bằng cảm hứng nghệ thuật cá nhân chủ nghĩa, ít chịu tác động bởi bất cứ một điều kiện khách quan nào. Tác phẩm sáng tạo của họ, được pháp luật bảo vệ (bằng Luật Bản quyền tác giả, tác phẩm). Và tác phẩm của họ cũng ít bị xâm hại nhất (trừ trường hợp phải biên tập trước khi in ấn, xuất bản, hay bị cấm lưu hành, thu hồi vì ảnh hưởng đến ích nhà nước, trái với đạo lý, thuần phong mỹ tục, văn hóa của dân tộc, vi phạm luật pháp). Với kiến trúc thì lại khác. Sản phẩm kiến trúc, kết quả sáng tạo của KTS bị chi phối bởi rất nhiều chủ thể, từ nhà đầu tư (người đặt hàng) cho đến các cấp quản lý chuyên ngành. Mà trước hết là chủ đầu tư (tư nhân và nhà nước). Tác động của chủ đầu tư có khả năng làm biến đổi từng phần cho đến tuốt sản phẩm, từ công năng đến hình thức thể hiện sáng tạo của KTS. Kiến trúc là sự tổng hòa giữa nghệ thuật và khoa học, nên để trở thành KTS thì trước nhất phải có khiếu về mỹ thuật và phải được đào tạo trong các trường đại học kiến trúc. Nhưng cũng không phải ai có bằng KTS đều sáng tác kiến trúc. Phần nhiều họ làm việc trong các lĩnh vực: nghiên cứu, giảng dạy, quản lý xây dựng, quản lý thành thị… Theo đánh giá của Hội KTS Việt Nam , chỉ khoảng 30% KTS trên cả nước là trực tiếp sáng tác kiến trúc. Tuy nhiên, lịch sử kiến trúc thế giới đã cho thấy, có những KTS nức danh, như Tadao Ando, KTS nức danh Nhật Bản, cây đại thụ của kiến trúc thế kỷ 20, đã khởi đầu sự nghiệp quang vinh của mình không phải từ trường đại học, mà từ nghề đấu võ, tài xế. Ở Việt Nam, các công trình kiến trúc truyền thống nức danh, kho tàng văn hóa lịch sử của dân tộc như đình chùa, lăng tẩm, thành quách được xây dựng không phải do KTS, mà bởi ý chí của vua chúa và bàn tay tài hoa của các hiệp thợ, sức cần lao bền bỉ của đời đời quần chúng cần lao. 2.Kiến trúc hệ trọng đến sự phát triển kinh tế - từng lớp và nhiều ngành công nghiệp khác của giang san. Nên, trông, đánh giá kiến trúc là một công việc khó khăn, phải qua lăng kính đa chiều về văn hóa, lịch sử, xã hội học và cả kinh tế học. Còn muốn phê bình một tác phẩm kiến trúc, ngoài bản lĩnh, vốn tri thức về văn hóa - từng lớp và đạo đức làm nghề thì phải có lý luận về nghệ thuật kiến trúc. Từ trước đến nay, ở nước ta lý luận, phê bình kiến trúc chưa được quan tâm đúng mức. Trong các trường đào tạo KTS cũng không đào tạo người chuyên về nghiên cứu lý luận, phê bình kiến trúc. Bởi thế, so với hàng ngũ 16 ngàn KTS của cả nước thì số người làm phê bình kiến trúc quả là rất thưa vắng. Vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, trên diễn đàn kiến trúc có tiếng nói phê bình thông thái và sâu sắc của các KTS tài danh tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, như Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Ngô Huy Quỳnh, Tạ Mỹ Duật… Đến thập niên 80, bổ sung thêm các nhà nghiên cứu phê bình như Đặng Thai Hoàng, Tôn Đại, Trần Hùng, Nguyễn Đức Thiềm, Ngô Thế Thi. Đặc biệt là thời kỳ đổi mới đến nay, nhiều KTS đã tham dự vào lĩnh vực gian truân này như ở phía Bắc có Hoàng Đạo Kính, Nguyễn Việt Châu, Nguyễn Bá Đang, Trần Trọng Chi, Ngô Huy Giao, Nguyễn Luận, Nguyễn Hồng Thục, Đoàn Đức Thành, Nguyễn Trí Thành, Trương Văn Quảng… Ở phía Nam có Nguyễn Hữu Thái, Lê Quang Ninh, Nguyễn Khởi, Ngô Viết Nam Sơn, Nguyễn Văn Tất, Nguyễn Trường Lưu… Nhưng hồ hết trong số đó không phải là các nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp. Các khu thành phố mới với các chung cư cao tầng mang phong cách kiến trúc quốc tế, đầy đủ tiện nghi xuất hiện bên cạnh các khu nhà ở tập thể thấp tầng cũ kỹ, tiện nghi nghèo nàn xây dựng từ những năm 1960, là hình ảnh tương phản sinh động cho sự đổi mới và phát triển. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng chưa khi nào giới KTS lại phát triển nhanh về số lượng và tiện lợi trong hành nghề như giờ. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi để tiếp cận và hấp thu những công nghệ thiết kế kiến trúc mới nhất, tiến bộ nhất của thế giới, thì họ cũng bị ngập chìm trong cái hỗn mang của các trường phái kiến trúc. Không kể hội chứng “đá rửa” từ miền Nam lan ra sau 1975 và kết thúc vào những năm cuối thập niên 80, thì trong thời kỳ đổi mới, kiến trúc Việt Nam đã chứng kiến sự xuất hiện và lây lan đến chóng mặt của các xu hướng mang tính tiêu cực như: “nhà chóp”, “nhại cổ”, “nhại kiến trúc cổ điển Pháp” , đến thiên hướng kiến trúc mới, tiến bộ như “kiến trúc xanh”, “kiến trúc bền vững”. Thiếu lý luận, KTS Việt Nam đã rất lúng túng khi chọn lọc hướng sáng tác giữa cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa phong cách bản địa và phong cách quốc tế. Sự lười nhác trong sáng tạo cùng với tư tưởng sính ngoại quá mức đã tạo ra một lớp KTS sao chép, mà sản phẩm là những kiến trúc nhại cổ, lai căng, đương đại nửa vời, cách biệt điều kiện thiên nhiên và văn hóa của dân tộc. Nguy hại hơn, sự lúng túng, mất định hướng tinh khiết tác đã làm cho khuân mặt kiến trúc quy hoạch nhiều TP, thành thị của chúng ta trở thành hỗn độn, rưa rứa nhau, miền núi cũng như miền đồng bằng, trở nên những bản sao 3D vô hồn xa lạ, không bản sắc. Kiến trúc nông thôn truyền thống bị thành phố hóa hiếp dâm đang có nguy cơ mất bản sắc, trở thành “nơi chứa rác thải” của văn minh thành phố. Biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang gây ra những thảm họa thiên tai cho loài người, trong đó có Việt Nam, đặt ra bao thách thức cho KTS trong tạo lập không gian sống đương đại an toàn và vững bền. Phê bình kiến trúc có tác động sâu sắc đến từng lớp, nó có thể trở thành tiền đề phát triển một thiên hướng mới, khuyến khích nhân tài. Nhưng không phải lúc nào ngôn ngữ này cũng nhận được sự đồng thuận. Năm 1992, một cuộc bàn cãi nhằm bảo vệ công trình kiến trúc “Nhà Trăm mái” xây dựng trên đường Đinh Tiên Hoàng, ngay cạnh Đồi Cù (TP Đà Lạt) của KTS Lữ Trúc Phương, diễn ra trên Tạp chí Kiến trúc của Hội KTS Việt Nam. Đây là tác phẩm sáng tác theo trường phái biểu đạt của Antonio Gaudi, với thiên hướng “thiên nhiên hóa kiến trúc”, đang bị chính quyền tỉnh Lâm Đồng bắt phá bỏ, bởi theo họ, đó là thứ “kiến trúc kỳ dị, điên rồ”. Cùng với nhiều tiếng nói ủng hộ trong giới kiến trúc, PGS.KTS Trần Hùng, một nhà nghiên cứu có uy tín đã dẫn chứng các luận cứ khoa học để minh chứng cho sự tồn tại của “Nhà Trăm mái”. Nhưng bài giải đáp phỏng vấn của một PGS.KTS khác đang giữ trọng trách trong ngành Xây dựng lúc đó, phê phán quyết liệt công trình này, đã thêm một “giọt nước làm tràn ly” để chính quyền Lâm Đồng củng cố quyết tâm của mình. Và tháng 10/1992, với lý do “không bảo đảm an toàn và vi phạm quy định xây dựng”, tác phẩm kiến trúc “Nhà Trăm mái” bị dỡ bỏ hoàn toàn, sau hai năm tồn tại, bất chấp sự phản đối của Hội KTS Việt Nam và công luận. Nhiều năm sau sự kiện “Nhà Trăm mái”, trong các cuộc hội thảo về lý luận phê bình kiến trúc, người ta vẫn chưa thôi tiếc cho số phận hẩm hiu của tác giả và tác phẩm kiến trúc độc đáo này, cũng như tiếc cho ngành du lịch Đà Lạt đã mất đi một cỗ máy in tiền?! Khi hội chứng “Nhà chóp” (vào thập niên 90), khởi đầu từ những vi la đắt giá và hoành tráng ở khu vực Quảng Bá, chung quanh Hồ Tây, làm khuynh đảo kiến trúc Hà Nội, thì xuất hiện bài phê bình có cái tên Em ơi… Hà Nội chóp! (nhại một ca từ trong ca khúc lừng danh về Hà Nội của nhạc sỹ Phú Quang) của nhà báo Phạm Thanh Hà đăng trên báo nhân dân, đã gây được sự chú ý của từng lớp. Bài báo đã mở đầu cho hiện tượng các nhà báo không phải KTS, lấn sân sang lĩnh vực đánh giá kiến trúc. Nhiều trường hợp, qua phát hiện của báo chí, giới phê bình kiến trúc mới biết và lên tiếng ?!. Những năm qua, Hội KTS Việt Nam đã bền chí tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề kiến trúc. Qua các hội thảo này và trên diễn đàn đã làm cho chính sách quản lý xây dựng trở nên cởi mở hơn, hạn chế phần nào những bị động đang diễn ra trong đời sống kiến trúc. 3.Thế giới ngày hôm nay là thế giới phẳng. Một thế giới mà dân tộc này có thể dễ dàng tiếp nhận văn hóa của dân tộc khác. Văn hóa bản địa được tôn, hòa cùng văn hóa chung của nhân loại. Thế giới phẳng đặt ra cho chúng ta một thách thức lớn, đó là làm thế nào để giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa. Nền kiến trúc Việt Nam đang phát triển nhanh về số lượng, nhưng đã và đang đánh mất bản sắc của mình. Hội nhập quốc tế đem đến cho kiến trúc Việt Nam những cơ hội lớn để phát triển vươn lên cùng kiến trúc các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhưng hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi ở KTS Việt Nam một bản lĩnh nghề vững vàng, để có khả năng miễn nhiễm trước những ảnh hưởng tiêu cực của kiến trúc ngoại lai, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của kiến trúc thế giới để vận dụng sáng tạo vào phát triển nền kiến trúc Việt Nam đương đại và bản sắc. Để làm được điều đó, hơn lúc nào hết, công tác lý luận, phê bình kiến trúc phải được từng lớp, các cấp, các ngành và hội nghề nghiệp quan tâm, chăm nom từ trong trường đào tạo đến thực tế cuộc sống. Quyết nghị T.Ư 5 khóa VIII của Đảng về “Xây dựng nền văn hóa tiền tiến, đượm đà bản sắc dân tộc” đã đi vào cuộc sống được15 năm. Đã đến lúc, giới KTS cần có một cuộc đánh giá tổng quan, khoa học, khách quan và trang nghiêm để nom lại chặng đường 15 năm phát triển kiến trúc nước nhà dưới ánh sáng Nghị quyết quan trọng này. Để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho định hướng phát triển nền kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ mới. Và phải chăng, đó cũng là cơ sở để trả lời câu hỏi mà chúng ta độ trong mấy chục năm qua: thế nào là bản sắc của kiến trúc Việt Nam đương đại. (Hà Nội, những ngày rất nóng - tháng 6/2013) |