Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Phi nông bất ổn


Đất nông nghiệp và đất trồng lúa giảm mạnh do

Chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp


1.Được Chính phủ duyệt từ ngày 27/11/2009, Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT- theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ) có tổng kinh phí 25.980 tỉ đồng, kéo dài từ năm 2010 - 2020 với Mục tiêu phấn đấu mỗi năm đào tạo khoảng 1 triệu LĐNT, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đương đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời với việc đào tạo nghề, Đề án cũng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị, vững vàng, có trình độ, năng lực, phẩm chẩt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý hành chính , quản lý điều hành kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa…


Mục tiêu đặt ra như vậy, nhưng trên thực tế sau hai năm triển khai, Đề án đã phải hạ thấp chỉ tiêu đào tạo vì nhiều bất cập. Đơn cử như năm 2012, theo ít của Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB&XH), chỉ có khoảng 485.000 LĐNT được đào tạo. Giám sát quá trình khai triển đề án dạy nghề cho LĐNT, Bộ LĐ-TB&XH đã thành lập nhiều đoàn soát hoạt động dạy nghề cho LĐNT và phát hiện ra rằng, nhiều địa phương đã coi Đề án như một phương thức giải ngân hiệu quả.


Cho đến nay, sau ba năm triển khai chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn, một điều dễ dàng nhận thấy là ngân sách nhà nước đã chi ra một khoản tiền không nhỏ, dẫu vậy hiệu quả chẳng đáng là bao. Theo Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB&XH), trong 3 năm qua, tổng kinh phí đã dùng để đào tạo nghề cho LĐNT là hơn 4.778 tỉ đồng. Trong đó hơn 1.641 tỉ đồng tương trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gần 252 tỉ đồng kinh phí cho đào tạo tẩm bổ cần lao cấp xã. Còn lại gần 2.931 tỉ đồng đầu tư cho cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề. Chỉ sau 3 năm triển khai chương trình, số kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất đã đạt 75% tổng kinh phí đầu tư trong 11 năm, còn kinh phí cho tương trợ đào tạo cần lao chỉ đạt vỏn vẹn 8,08% ( !)


Kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất quá lớn, là cơ hội để các trường trung cấp nghề được tiếp thêm sức mạnh- hay nói cách khác là chính trường nghề đang được hưởng lợi. Nhưng đào tạo không gắn với nhu cầu tầng lớp, các trường nghề vẫn đang đào tạo nghề mình có, chứ không đào tạo nghề cho người học cần. Hoặc vô khối những lớp học được mở tại chỗ cho người dân cày, nhưng ở vùng chuyên canh cây lúa lại được học nghề trồng măng; dạy nghề thủ công mây tre đan cho những vùng mà người dân không có nghề truyền thống…Tiền của Đề án được giải ngân, được tiêu hết, nhưng nghề mà người nông dân học được không vững bền. Vậy là cái vòng lẩn quất nghèo đói vẫn cứ tiếp diễn năm này qua năm khác…


2.Có nhẽ, cho đến thời điểm này, câu chuyện thu hồi đất và giải bài toán việc làm cho người nông dân vẫn thật khó tìm lời đáp. Mỏng của nhiều địa phương nói rằng, trong những năm qua, công tác thu hồi đất nông nghiệp, đền bù và giải phóng mặt bằng đã có bước đổi mới tích cực, hoàn thiện hơn. Nhưng thực tế cho thấy, mất đất- mất tư liệu sinh sản, người dân cày đang loay hoay tìm mẹo sinh nhai. Làn sóng di trú tự do ra thị thành cũng không nằm ngoài căn do ấy. Theo một số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện mỗi năm diện tích trồng đất lúa giảm nhàng nhàng hơn 7.000 ha. Có tới 41/63 thành thị đang bị giảm diện tích trồng đất lúa. Riêng đồng bằng sông Hồng, đất nông nghiệp và đất trồng lúa giảm mạnh do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp.


Các số liệu thống kê cũng cho thấy, nhàng nhàng cứ mỗi 1ha đất thu hồi, sẽ khiến 10 lao động mất việc. Trong quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người nông dân như đền bù, tương trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư... Nhưng những biện pháp ấy vẫn quá chơi vơi. Đáng lẽ mất nghề nông truyền thống, nông gia phải được học một nghề vững bền để phát triển kinh tế hộ gia đình, song những nghề mà họ đang được học hiện nay không có gì bảo đảm vững chắc về đầu ra, không có gì đảm bảo cuộc sống lâu dài của họ. Có không ít người mất nhiều thời kì để học nghề nhưng không sử dụng đến, gây lãng phí và mất thời gian. Điều này cho thấy, qui hoạch đào tạo nghề cho LĐNT bị thu hồi đất đang thiếu hẳn một chiến lược, mọi phương sách đang khai triển đều là sự manh mún, chắp vá.


Nhìn một cách thấu, hầu hết nông dân trong tình cảnh này đều có trình độ thấp và không muốn chuyển đổi nghề. Theo một khảo sát do TS. Lưu Song Hà, Trường Cán bộ nữ giới Trung ương, đã tiến hành trên 1.257 đứa ở độ tuổi lao động, trong các hộ nông dân bị thu hồi đất cho thấy, chỉ một số ít có trình độ THPT, đa phần có trình độ THCS (63,8%). Học vấn thấp, không có tay nghề nên hầu hết dân cày khó kiếm việc làm. Do đó, đã có tới 67% số lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25 đến 30% số cần lao không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định.


3. "Bảo vệ quỹ đất lúa ổn định từ năm 2020 là 3,812 triệu ha, song song ứng dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiền tiến để đạt sản lượng 41-43 triệu tấn năm 2020 và 44 triệu tấn năm 2030…”. Đó là nội dung định hướng đã được Thủ tướng Chính phủ duyệt tại Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Đích làm thế nào cương quyết giữ cho được 3,8 triệu ha đất lúa - giờ đây thực thụ đã là mối quan hoài của toàn tầng lớp, xuất hành từ tâm lý của người dân ở một giang san đi lên từ nông nghiệp.


Như vậy, hệ thống chính sách cho tam nông không thiếu, định hướng về tam nông cũng hoàn toàn đúng, chỉ có điều cách thức đang triền khai chưa "trúng”. Giờ đây bão lụt, dịch bệnh và quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp để phục vụ cho thành thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ, sân golf, du lịch được xem là các căn nguyên đe dọa an ninh lương thực, an sinh xã hội.


Sự khẳng định "phi nông bất ổn” xưa nay thực đã quá rõ rồi. Vậy mà nay những quan niệm từ người thực thi chính sách, thậm chí ngay cả người nông dân cũng có sự coi nhẹ nông nghiệp. Đó là tư tưởng mong "thoát ly”, "ly nông”…của một bộ phận không nhỏ người dân nông thôn. Theo một số chuyên gia nông nghiệp, sự bất cập trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong nông nghiệp cần phải sớm điều chỉnh, đặc biệt là việc kiểm soát giá lúa gạo và chỉ tiêu xuất khẩu gạo gần đây.


Lại bàn về chữ "ổn” trong trong mệnh đề "phi nông bất ổn”- ấy chính là một đúc kết kinh nghiệm ngàn đời của tiên sư ta mang tính quy luật của sự nghiệp dựng nước và phát triển tổ quốc.

Triết Giang