Qua năm lần xét xử, bị cáo Nguyễn Thị Kim Cúc (nguyên cán bộ Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp) được tuyên không phạm tội nhận đút lót. Trong khi đó, bị cáo Nguyễn Văn Chính (viên chức lái xe của sở này) vẫn bị phạt tù về tội môi giới đút lót. Lập luận cáo buộc Trong bản án sơ thẩm lần 2 (tuyên án bị cáo Cúc tám năm ốc Chính ba năm tù), TAND TP Cao Lãnh lập luận (lược trích): Về quan hệ công tác, hai bị cáo công tác ở hai lĩnh vực khác nhau, những cuộc điện thoại đôi bên lại rơi vào thời điểm trước ngày phỏng vấn của các trường hợp mà Chính khai đã nhận tiền đưa cho Cúc. Cụ thể, có trường hợp hồ sơ ấn định hai ngày sẽ phỏng vấn thì tối hôm trước, hai bị cáo liên lạc với nhau tổng cộng chín lần qua điện thoại. Và trước khi phỏng vấn 2 giờ, cả hai còn giao thông với nhau năm lần. Mặt khác, bị cáo Chính khai những lần gọi điện thoại cho Cúc thông báo về việc nhận hồ sơ, cung cấp số hẹn và ngày phỏng vấn của các đương sự đều trùng khớp về thời gian với danh bạ điện thoại cơ quan điều tra thu thập được. Bị cáo Chính có nhiều lời khai không trùng khớp nhau là do thời kì lâu, không nhớ rõ. Nhưng tại tòa, bị cáo này đã khai rõ hành vi phạm tội của mình và Cúc ăn nhập với chứng cứ của cơ quan điều tra. Bị cáo Nguyễn Văn Chính bị tăng thêm một năm tù so với kết quả phúc án lần một. Ảnh: CTV Cúc là cán bộ vận hành hồ sơ và phỏng vấn của phòng hành chính tư pháp, là người nhận hồ sơ từ bộ phận một cửa và sau đó vào sổ trình cho trưởng phòng cắt cử người phỏng vấn nên biết trước lịch. Tại thời điểm đó, trong phòng cũng chỉ có hai cán bộ phỏng vấn và một ngày trưởng phòng chỉ phân công hai hồ sơ sáng và chiều. Trong phòng, Cúc là người được cắt cử phỏng vấn trước nên dù hồ sơ chỉ phân công trước 15 phút thì với vai trò của mình, Cúc hoàn toàn có thể xếp đặt, tuyển lựa hồ sơ hoặc từ khước phỏng vấn bằng cách đến cơ quan sớm hoặc trễ sẽ có sự phân công khác nhau. Đồng thời, danh sách các cuộc gọi giữa hai bị cáo đều trùng khớp với lời khai của Chính. Tuy nội dung chỉ có hai người biết nhưng Chính khai rất chi tiết và ăn nhập với diễn biến sự việc và kết quả điều tra... Lập luận của tòa trên Trong bản án phúc án lần 2 ngày 1-7 mới đây (tuyên Cúc trắng án và Chính ba năm tù), TAND tỉnh Đồng Tháp lập luận (lược trích): Lời khai của bị cáo Chính về số tiền các lần nhận và giao cho Cúc là có sự nhất quán nhưng đây chỉ là lời khai của Chính. Ngoài lời khai này, không có tình tiết nào khác dùng làm bằng cớ chứng minh cho tính chuẩn xác của lời khai, trong khi bị cáo Cúc không nhấn có việc giao nhận tiền. Đồng thời, đương sự khai 10 ngày sau phỏng vấn, Cúc gọi bổ sung giấy tờ có lời lẽ đòi tiền, dọa dẫm. Nhưng Cúc khai là gọi theo chỉ đạo của giám đốc sở và hồ sơ án có tả điều này ưng chuẩn tờ phiếu trình. Như vậy lời khai của Cúc là thích hợp. Cúc chưng lời khai của đương sự và cũng không có cứ nào khác chứng minh lời khai của đương sự là đúng. Mặt khác, Cúc nhấn có tiếp xúc với đương sự tại nhà nhưng do đương sự tự đến. Và cũng không đủ chứng cứ trực tiếp chứng minh Cúc nhận tội, chẳng thể xem hành vi xúc tiếp với đương sự tại nhà là hành vi vi phi pháp luật. Cuộc gọi điện giữa Cúc và đương sự có ghi âm nhưng không có lời thoại của Cúc dìm có nhận tiền của Chính. Nội dung cuộc đối thoại có lúc có nội dung Cúc chỉ dẫn đương sự không khai báo với công an là đưa tiền cho Chính nhưng không thể xem đây là hành vi nhằm bịt làm mai, bưng bít cho việc nhận hối lộ của Cúc. Bởi muốn xác định như vậy thì cần chứng minh có hành vi nhận đút lót xảy ra trong thực tại. Trong khi Cúc chỉ khai nghĩ đương sự là chị em nên mới hướng dẫn khai như trên. Những cuộc gọi giữa Chính và Cúc có nội dung không xác định được. Dù Chính khai là nói về hồ sơ kết hôn, giá cả, thì giờ phỏng vấn nhưng Cúc phủ nhận và cũng không có bằng cớ nào khác chứng minh. Như vậy bằng chứng kết tội Cúc nhận hối lộ không xác định được. Hồ sơ vụ án chỉ có lời khai độc nhất của Chính về việc làm môi giới cho Cúc nhận đút lót. Ngoài ra không có chứng cớ nào khác chứng minh lời khai này. Án sơ thẩm chỉ dựa vào lời khai của bị cáo Chính để kết án bị cáo Cúc là không hợp với quy định của BLTTHS. Mặt khác, án sơ thẩm dùng tình tiết đương sự khai về việc biết Chính nhận, đưa tiền cho Cúc cũng chỉ qua Chính kể lại. Tình tiết này thiếu khách quan nên chẳng thể xác nhận là chứng cứ cáo buộc Cúc như quan điểm của án sơ thẩm được. Đồng thời, việc nhận định Cúc có thể sắp đặt hồ sơ phỏng vấn của án sơ thẩm là chưa đủ cơ sở. Đây là phán đoán chung chung, không khẳng định được trường hợp cụ thể nào. Theo nguyên tắc tố tụng hình sự, khi mọi suy đoán về việc phạm tội không chứng minh được thì không thể cáo buộc. Trong vụ án này, hành vi nhận tiền của Chính từ các đương sự đã rõ và thích hợp với lời khai của người liên tưởng, người làm chứng và biên bản phạm tội quả tang cùng các bằng chứng khác. Nhưng không có cơ sở xác định Cúc có đàm luận và nhận tiền từ Chính. Vụ án đã qua quá trình điều tra, xét xử nhiều lần mà vẫn không có chứng cứ chứng minh được hành vi phạm tội của Cúc nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo này, hủy án sơ thẩm và tuyên không phạm tội, đình chỉ vụ án đối với Cúc.
ÁI MINH |