Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Việt Nam chi tiền để giá gạo rẻ nhất thế giới?



Trong bài trước, chúng tôi đã gửi tới quý bạn đọc những phân tách của PGS.TS. Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) về thực trạng nền nông nghiệp VN hiện giờ, ở phần này chúng tôi xin nối gửi tới quý vị những phân tách của ông về chính sách thu mua gạo tạm trữ mà Chính phủ đang thực hiện và đề xuất một số giải pháp tháo gỡ vướng mắc cho nền nông nghiệp nước ta.

PV - Thưa ông, có ý kiến cho rằng chương trình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ đang không mang lại nhiều hiệu quả, và thực tiễn người dân cày vẫn không có lãi. Ông nghĩ thế nào về chương trình này?

PGS.TS. Nguyễn Văn Nam:Chính sách đó là một cách làm không mang lại hiệu quả trực tiếp cho dân cày, nhưng đấy là cách làm đơn giản và dễ thực hành nhất, thực tế là nhà nước tương trợ tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu mua gạo trên thị trường, việc làm này tác động tăng hiên thụ gạo đẩy giá lúa trên thị trường tăng 100 - 200 đồng/kg. Đây là cái lợi gián tiếp mà dân cày có thể được hưởng. Tuy nhiên, không phải hộ nông dân nào cũng đợi được đến lúc khai triển chương trình mới bán thóc. Do vậy lợi ích mang lại cho dân cày nghèo rất ít oi.

PGS.TS. Nguyễn Văn Nam.

Việc tương trợ tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu giúp họ giảm uổng cho việc thu mua gạo, tức thị mua được giá rẻ, và cố nhiên doanh nghiệp cũng sẵn sàng xuất khẩu với giá rẻ hơn mà lợi nhuận không bị suy giảm. Thêm nữa, nhà xuất khẩu sẵn sàng bán giá rẻ vì họ có một chân hàng rất dồi dào trong nước, và họ sẽ tiếp chuyện xuất khẩu lô thứ 2, 3… tổng hợp lại là lợi nhuận của họ cao hơn nhiều so với việc họ dự trữ và chờ giá cao mới xuất hàng. Vì vậy, chính sách hỗ trợ tạm trữ gạo lại vô tình đẩy giá xuất khẩu gạo VN xuống thấp. Với giá thấp đó lợi. Nhà xuất khẩu không hề suy giảm, còn người nông dân chịu mọi thua thiệt, càng làm càng lỗ.

Bản thân nông dân cần bán thóc, còn chương trình lại hỗ trợ mua gạo, như vậy “ích cho người dân cày” chỉ là một con bài chính trị nhằm thực hành lợi ích thiết thực và lớn lao cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Mặt khác, xưa nay chỉ có thể dự trữ thóc lúa thì mới có thể duy trì được chất lượng hạt gạo, còn dự trữ gạo chỉ có làm chất lượng hạt gạo giảm, dự trữ càng lâu chất lượng càng giảm, kéo theo giá trị giảm.

PV – Có ý kiến cho rằng lúa gạo đang dư thừa nên giá bị đẩy xuống, ông nghĩ sao về điều này?

PGS.TS. Nguyễn Văn Nam:Không phải như vậy, cho nên giới vẫn thiếu, gạo Ấn Độ, Myanmar, Pakistan… vẫn bán được giá cao hơn của chúng ta. Trong mai sau, các nhà khoa học đều thống nhất dự báo năng lượng và lương thực là hai mặt hàng vẫn tiếp khan hiếm. Hiện Trung Quốc đã bắt đầu phải nhập cảng lương thực, mà Trung Quốc nhập thì sức hút sẽ khủng khiếp.

Tuy thế, trong tình thế hiện nay của nước ta thì không nên mở rộng thêm diện tích trồng lúa, không chạy theo số lượng mà cần tụ tập cho chất lượng lúa và khâu chế biến để tăng giá trị cho hạt gạo. Việc chuyển đổi cây trồng là vấn đề đáng phải nghiên cứu, nhưng phải rất thận trọng tránh lặp lại sai trái như trồng lúa. Mặt khác phải nghĩ tới những khâu chế biến sản phẩm từ gạo, để làm tăng giá trị gia tăng của hạt gạo, như các nước Đài Loan, Nhật Bản… đã làm.

PV - Vậy giải pháp cần thiết hiện giờ để giải quyết những tồn tại, khó khăn trên là gì, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Văn Nam:dĩ nhiên phải tái cơ cấu tất cả chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo, từ trồng tỉa qua thu mua chế biến cho tới tiêu thụ và xuất khẩu. Việc trồng lúa phải được tổ chức lại, theo hướng các cánh đồng mẫu lớn đang triển khai.

Phải xây dựng một hệ thống doanh nghiệp chế biến lớn, đương đại, đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị đó, như hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long đã có một số doanh nghiệp ở Đồng Tháp, An Giang làm được vai trò này, nhưng nhà máy còn nhỏ bé cỡ cấp huyện. Quốc gia cần tương trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp này, để họ trở thành những doanh nghiệp đầu đàn trong ngành công nghiệp lúa gạo. Để có nhà máy lớn chúng ta cũng có thể gom các nhà chế biến nhỏ hiện lại với nhau thành một công ty cổ phần trang bị máy móc hiện đại, xây kho có thể dự trữ thóc 6 tháng, 1 năm phục vụ cho chế biến.

Tổ chức lại việc thu mua thóc lúa cho dân cày, và tiêu thụ gạo trong nước cũng như xuất khẩu thì các nhà máy chế biến lớn sẽ hiệp đồng với dân cày về sinh sản, tiêu thụ và họ cũng định hướng cho dân cày trong sản xuất. Tức là tạo một mối kết liên kinh tế chém đẹp giữa các doanh nghiệp chế biến gạo với dân cày mới giải quyết được căn bản khâu tiêu thụ thóc gạo cho nông dân, như Công ty lương thực Tân Hồng (Đồng Tháp) đang làm.

Thêm nữa, những năm được mùa, các nhà máy vẫn không thể thu mua hết thóc của nông dân. Trước đây, ở Thái Lan theo từng vùng sản xuất lúa người ta xây dựng những cụm kho lớn, để làm dịch vụ phơi sấy, quạt sạch và lưu kho cất giữ thóc hộ cho nông dân. Đến mùa thu hoạch nông dân không bán thóc được cho nhà máy thì mang thóc tới đây phơi khô, quạt sạch gửi vào kho. Với giấy biên nhận lưu kho này nông dân có thể gặp ngay ngân hàng (cũng trong cụm kho ấy) thế chấp và vay tiền về đầu tư sinh sản vụ mới.

Sau đó nông dân chỉ cần theo dõi diễn biến của giá cả thị trường, lúc nào thấy bán được thì thông báo cho ban quản lý kho người ta bán cho anh. Bán xong, nông dân đến làm thủ tục tính sổ với kho và trả nợ nhà băng, nhận tiền về. Như vậy nông dân không bị ép giá, không bị lừa đảo, vẫn nắm quyền mua bán, nhưng giải quyết được nhu cầu tài chính cho mình. Chính phủ muốn hỗ trợ nông dân cũng rất dễ thực hành, chỉ cần giảm giá dịch vụ của kho và giảm lãi vay ngân hàng là được.

PV – Để xảy ra tình trạng nông nghiệp “bết bát” như giờ, theo ông bổn phận các bộ ngành ra sao?

PGS.TS. Nguyễn Văn Nam:Bộ NN&PTNT phải có nghĩa vụ chính trong việc này, nước xuất khẩu gạo hàng đầu mà phần đông giống lúa đều phải nhập nội, một số giống trong nước sinh sản được thì mới đưa ra đại trà đã bị làm giả, giống không duy trì được phẩm trật hạt gạo.

Tái cơ cấu sinh sản và kinh dinh lúa gạo chưa làm được bao lăm, vẫn để sản xuất nhỏ, mua bán manh mún… không có chính sách đầy đủ để công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành lúa gạo.

Việc tương trợ tạm trữ gạo cần phải tâm tính lại, làm sao mang đến lợi ích trực tiếp cho nông dân. Để hình thành hệ thống doanh nghiệp chế biến thì nhà nước phải tương trợ đầu tư, phải có chính sách tái cơ cấu cụ thể.

Hiện Đảng và Chính phủ đã coi nông nghiệp và nông thôn là mặt trận quan trọng đang có nhiều chính sách tương trợ và ưu đãi, để những chính sách này có hiệu quả cần nắm chắc nhu cầu của sinh sản và kinh dinh, phải dùng biện pháp kinh tế cụ thể và hiệu quả để đẩy mạnh tái cơ cấu sản xuất, kinh doanh mặt hàng gạo cũng như các mặt hàng nông phẩm nói chung.

PV – Xin cảm ơn ông!